Sứ mệnh của website:
- Cung cấp kiến thức, thông tin, công cụ hỗ trợ quá trình học tập, làm việc từ lớp 1 đến khi tốt nghiệp đại học, có thể tự phát triển startup... một cách có hệ thống và theo chuyên đề.

Cách sử dụng website:
- Nhấn vào HỌC (ở cột MỤC LỤC), nhấn vào Kiến Thức Nền Tảng, kéo đến 32. Nhập Môn Lập Trình C, nhấn vào liên kết tương ứng.
- Các chức năng khác sử dụng tương tự.

TÁC GIẢ

image

Bùi Phú King

22 - 4 - 1989

Tiền Giang

buiphuking@gmail.com

Sở trường:
- Đa ngành.
- Nghiên cứu sâu.

Ngoại ngữ:
- Tiếng Anh.

Khí chất:
- Linh hoạt (Sanguine).

Hệ tư tưởng:
- Thuần khoa học.
- Định lý bất toàn Gödel.
- Phong cách NASA (gấp đôi tất cả mọi thứ để đề phòng trường hợp xấu nhất xảy ra).

Thần tượng:
- Steve Jobs.
- Elon Musk.
- Leonardo Da Vinci.

Kỹ năng:
- Website: Laravel, MERN (training).
- App: React Native.
- Kiến trúc: Revit (training).
- Kết cấu: SAP (training), Etabs (training).

image

Trần Minh Tâm

28 - 3 - 1992

Bến Tre

minhtam.webmaster@gmail.com

Sở trường:
- Chịu khó.

Ngoại ngữ:
- Tiếng Anh.

Khí chất:
- Nóng tính (Choleric).

Hệ tư tưởng:
- Thuần khoa học.

Tài khoản ngân hàng:
- STK: 0181 0034 60553
- Trần Minh Tâm.
- Vietcombank.
- Chi nhánh Nam Sài Gòn.

Kỹ năng:
- Website: Laravel, MERN.
- App: React Native.

Quan điểm của tác giả về tình yêu:

Kinh tế học:
Nguyên lý cung - cầu, chúng ta tìm kiếm cái mà mình thiếu.
- Đàn ông thiếu: sự nữ tính của người phụ nữ.
- Đàn bà thiếu: sự bản lĩnh của người đàn ông.
- Đàn ông cần: tâm hồn, thể xác.
- Đàn bà cần: tình, tiền.
Triết học:
- Vẻ đẹp không nằm ở đôi má hồng của người thiếu nữ mà ở trong đôi mắt của kẻ si tình.

Immanuel Kant

Quan điểm của tác giả về nền công nghiệp văn hóa:

Nền công nghiệp văn hóa ở quy mô quốc gia thường được bảo hộ phát triển ở các nước không có tài nguyên thiên nhiên hoặc đất đai không phù hợp để phát triển nông nghiệp.
Ưu điểm:
- Chỉ cần nhân tài và thời gian.
Nhược điểm:
Do ảnh hưởng bởi Nho giáo nên:
- Phụ nữ sẽ không được tôn trọng (Việt Nam có ngày 20-10), ít có tiếng nói, cơ hội việc làm cũng ít hơn.
- Văn hóa cấp bậc dẫn đến lạm quyền, làm người yếu thế thường cam chịu, ít có khả năng nói lên tiếng nói của mình.
Do không có tài nguyên thiên nhiên nên phải làm việc liên tục, tăng ca mỗi ngày để tiếp tục phát triển dẫn đến tỉ lệ tự tử cao.
Giải pháp:
Có thể tham khảo văn hóa Đức:
- Khi làm việc (kỹ thuật, kinh doanh) thì phải hoàn hảo (do tận dụng tối đa khoa học công nghệ).
- Những việc bình thường có thể làm cho sai 1 chút để tạo thêm màu sắc trong cuộc sống.

Quan điểm của tác giả về đầu tư:

- Áp dụng tâm lý đám đông là cách chắc chắn để có kết quả tầm trung.
- Đầu tư giá trị sẽ có kết quả trong dài hạn và bền vững.
- Đầu tư mua đáy bán đỉnh sẽ có kết quả tối ưu nếu bạn giỏi toán.

Quan điểm của tác giả về mối tương quan giữa đạo đức học và kinh tế học:

- Đạo đức học thể hiện cách mà người ta muốn thế giới vận hành.
- Kinh tế học cho thấy cách mà thế giới thật sự vận hành.

Quan điểm của tác giả về sự khác biệt giữa thông minh và sáng tạo:

- Thông minh là lặp lại một cách linh hoạt, như áp dụng công thức vào các dạng bài tập.
- Sáng tạo là đóng góp mới về chất, cao hơn trong quá trình sản xuất vật chất và tinh thần.
Cấp độ sáng tạo:
- 1. Mức độ thấp của sự sáng tạo là cách chứng minh mới đối với kết luận cũ, hoặc do vận dụng vào cuộc sống mà có những cải biên, cải tiến cách làm so với cách cũ.
- 2. Cao hơn là tìm được những hình thức mới, những thuộc tính mới của sự vật, hiện tượng, hoặc phương pháp giải quyết mới.
- 3. Cao hơn nữa là khám phá ra bản chất mới, quy luật mới, quá trình mới, hoặc dự báo những xu hướng mới.
- 4. Cao nhất là, do những khám phá mới mà nhờ nó đã mở ra một khuynh hướng mới, một giai đoạn mới cơ bản trong khoa học, trong văn hóa, trong chính trị xã hội.

Quan điểm của UNESCO về giáo dục:

- Học cách biết.
- Học cách làm.
- Học để kết nối.
- Học để phát triển bản thân.
- Học để thay đổi mình và thay đổi thế giới tốt đẹp hơn.

Quan điểm của tác giả về giáo dục:

1. Học để tạo ra sản phẩm giải quyết vấn đề thực tế trong cuộc sống (chủ nghĩa hoàn hảo của người Đức).
2. Nên dạy 2 thứ: Dạy làm người, dạy làm ăn.
3. Nên học để trở thành kỹ trị (kỹ sư + quản trị kinh doanh).
4. Nên kết hợp: Thiết kế + công nghệ + kinh doanh.
5. Tư duy hệ thống, thiết kế ngược và phần mềm, game mô phỏng 3D sẽ định hình lại thế giới.
6. Khi học, làm và tranh luận nên dùng tư duy Tây vì nó khuyến khích suy nghĩ độc lập, tự suy luận, đặt câu hỏi, nói chuyện bài bản, có cơ sở khoa học và thực tiễn.
7. Bằng cấp và điểm số không quan trọng, vì đó là kiến thức cũ và là lý thuyết trên giấy. Tìm ra kiến thức mới và ứng dụng kiến thức vào cuộc sống mới quan trọng.
8. Ngôn ngữ thể hiện văn hóa. Ngôn ngữ Việt Nam thường gắn liền với lúa gạo và sông nước.
9. Sự học không có đường tắt.
10. Không ai muốn làm giàu chậm.
11. Việc học phải đem lại niềm vui.
12. Chơi là hình thức học tập cao nhất.
13. Thời điểm tốt nhất để học sâu nên là sau đại học.
14. Năng lực quản lý bắt nguồn từ năng lực cá nhân.
15. Giáo dục Việt Nam không có giáo viên giỏi về khoa học ứng dụng cũng như không sống trong môi trường có nhiều người lớn giỏi về khoa học tự nhiên. Người Việt Nam chủ yếu giỏi về toán học, khoa học lý thuyết. Có thể làm luận án, giải bài tập trên giấy rất tốt, nhưng chỉ có vậy...
16. Phát triển nghề nghiệp liên tục (Continiuous Professional Development - CPD).
17. Sự ảnh hưởng của Tam giáo (Lão, Nho và Phật)Việt Nam đã làm chậm đi sự phát triển của khoa học kỹ thuật, thương nghiệp và hàng hải.
18. Phần lớn người Việt vốn rất yếu về lý luận, và coi thường lý luận. Hậu quả là phát triển đất nước theo hướng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mô hình này chưa tiền lệ. Các nhà hoạch định chiến lược chưa bao giờ xây dựng công ty từ số 0 nên không biết tại sao phải làm, làm cái gì và làm như thế nào.
19. Trường chuyên Tây tìm nhà phát minh, trường Việt luyện 'gà chọi'.
20. Trí thức càng hạn hẹp, càng bảo thủ, cố chấp.
21. 3 kỹ năng quan trọng trong đời:
  1. Nghiên cứu, thiết kế sản phẩm mẫu.
  2. Sản xuất hàng loạt.
  3. Marketing sau khi hiểu rõ sản phẩm.

Dạy và học Toán ở Mỹ và Singapore:

1. Quan sát các tình huống thực tế và phát hiện ra vấn đề cần giải quyết.
2. Tìm kiếm 1 mô hình Toán học thể hiện được bản chất của vấn đề thực tế đó.
3. Giải quyết mô hình Toán học trên và tìm ra đáp án.
4. Áp dụng kết quả có được vào tình huống thực tế để giải quyết vấn đề.

Dạy và học Toán ở Việt Nam:

Chúng ta cắt đầu, cắt đuôi, chỉ giữ lại 2 bước giữa: 2 và 3. Bịa đặt ra bài toán và yêu cầu học sinh giải bài toán đó cho ra kết quả. Chấm hết.

Quan điểm của tác giả về phát triển xã hội:

- Phát triển nhân sinh quan sẽ phát triển thế giới quan.

Quan điểm của tác giả về sự khác nhau ở khái niệm giữa xây dựng và phát triển:

Xây dựng:
  • Là xây cái nhà xong rồi đi.
Phát triển:
  • Đi bộ, đi xe đạp, đi xe honda, đi xe hơi, đi máy bay...
  • Windows 7, Windows 8, Windows 10, Windows 11...

Mục tiêu của tác giả:

Ứng dụng kiến thức:
  • Khoa học tự nhiên
  • Khoa học xã hội
  • Triết học
  • Nghệ thuật
  • Mỹ học
  • vào cuộc sống.

Quan điểm của tác giả về sử dụng nhân sự:

- Nhân sự giỏi không quan trọng.
- Nhân sự phù hợp mới quan trọng.

Quan điểm của tác giả về sử dụng công cụ lao động:

- Người ta thiết kế ra cây chổi dùng để quét nhà.
- Người ta thiết kế ra bàn chải dùng để đánh răng.

Quan điểm của tác giả về chất lượng sản phẩm:

- Xã hội nào thì sản phẩm nấy.
- Hệ thống được thiết kế như thế nào sẽ cho ra kết quả như thế ấy.

Quan điểm của tác giả về hạnh phúc:

- Hạnh phúc là tìm thấy niềm vui trong công việc.

Quan điểm của tác giả về cách mạng xanh:

- Ứng dụng khoa học (cách mạng 4.0) để phát triển hòa hợp với thiên nhiên.

Quan điểm của tác giả về âm nhạc:

- Âm nhạc hay nhất là âm nhạc chạm đến trái tim của người nghe.
- Ca sĩ nên có khả năng sáng tác (bao gồm cả phần đệm) để có thể truyền tải hết câu chuyện, tiếng lòng và cá tính của mình vào trong tác phẩm.
- Nhạc sĩ tạo ra ca sĩ chứ không phải ngược lại.
- Sự phổ biến của nhạc não lòng, bi lụy, cam chịu... phản ánh sự bất lực của người dân đối với cuộc sống hiện thực.
- Lời bài hát là tiếng lòng, nhạc nền là dòng chảy của tâm trạng.
- Khi vui ta nghe giai điệu, khi buồn ta nghe ca từ.

Quan điểm của tác giả về người giỏi:

- Hãy kể về 1 gian đoạn khó khăn của bạn và bạn đã vượt qua nó như thế nào?
- Hãy nói cho mình nghe những gì bạn biết trừ những gì bạn được học ở trường lớp?
- Hãy cho mình xem sản phẩm của bạn.

Quan điểm của tác giả về cấp độ tư duy:

1. Biết (Knowledge).
2. Hiểu (Comprehension).
3. Làm được (Application).
4. Phân tích (Analysis).
5. Tổng hợp (Evaluation).
6. Sáng tạo phá hủy - Vượt ra khỏi cái hộp (Creative Destruction).

Quan điểm của tác giả về cảm nhận cuộc sống:

Dân hai nhăm triệu ai người lớn
Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con.

Tản Đà

Quan điểm của tác giả về chiêm tinh, tử vi, tướng số, phong thủy:

- Nên dùng thiên văn học vì nó chính xác và thực nghiệm hơn.

Quan điểm của tác giả về cầu cơ:

- Nên dùng xác suất thống kê vì nó chính xác và thực nghiệm hơn.

Quan điểm của tác giả về tín ngưỡng, tôn giáo:

- Dựa vào bản thân (khoa học) tốt hơn dựa vào niềm tin (thần linh).
- Con người tạo ra tôn giáo để tự giải thích những điều mình chưa biết.

Cảm nhận của tác giả về nền giáo dục:

- Chúng ta đang sống trong xã hội hiếu học lạc hậu.

Văn Như Cương

Quan điểm của tác giả về bất động sản:

Nên phát triển bất động sản để xây nhà xưởng hoặc khu công nghiệp:
  • Tạo ra thêm doanh nghiệp.
  • Tạo ra thêm việc làm.

Quan điểm của tác giả về tiền điện tử:

- Đây không phải là một kho lưu trữ giá trị an toàn và cũng không phải là một mạng lưới thanh toán khả thi.

https://genk.vn/

Quan điểm của tác giả về đạo đức nghề nghiệp:

- Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi. Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện.

Nam Cao

MỤC LỤC

  1. HỌC
  2. LÀM
  3. TIN TỨC
  4. PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ
  5. KIẾN TRÚC
  6. XÂY DỰNG
  7. CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
  8. ĐIỆN - NĂNG LƯỢNG
  9. ĐIỆN TỬ - VIỄN THÔNG
  10. CƠ KHÍ
  11. NÔNG NGHIỆP
  12. TOÁN HỌC
  13. VẬT LÝ
  14. HÓA HỌC
  15. SINH HỌC
  16. TIẾNG ANH
  17. NGỮ VĂN
  18. LỊCH SỬ
  19. ĐỊA LÝ
  20. ÂM NHẠC
  21. KHỞI NGHIỆP
  22. ĐẠO - ĐƯỜNG
  23. PHÁT MINH - SÁNG TẠO
  24. HÀI

Quan điểm của tác giả về Toán học:

- Đây là một công cụ tri thức luôn nỗ lực tìm ra đáp án thông qua các con số.

Quan điểm của tác giả về ngành IT:

Ngành IT không phát triển mỗi ngày đồng nghĩa với cái chết.
Sức mạnh ngành IT nằm ở 2 từ "kế thừa":
- Kế thừa kiến thức khoa học.
- Kế thừa cơ sở dữ liệu.
- Kế thừa cơ sở hạ tầng.
1. Có 2 thứ không thay đổi:
- Logic học của Toán Rời Rạc.
- Kiến thức nền tảng.
2. Khả năng tự học cao:
- Lên Youtube học, sau đó lên Google search, còn ko biết nữa thì đi hỏi. IT mà không có khả năng tự học thì nên bỏ ngành.
3. Nên đam mê 3 môn:
- TOÁN HỌC.
- TIN HỌC.
- TIẾNG ANH.
4. Học mỗi ngày, học suốt đời.
5. Ngôn ngữ không quan trọng, thuật toán mới quan trọng:
- Giải phương trình bậc 2, giải bằng PASCAL hay giải bằng C, thì lưu đồ và thuật toán là như nhau, chỉ có ngôn ngữ khác nhau, ngôn ngữ khác nhau dẫn đến cú pháp khác nhau.
6. Có vài lý do 9 khi chọn công nghệ:
- Cộng đồng dùng nhiều (UltraViewer, AnyDesk hoặc Google Meet hỗ trợ bạn ngay lập tức).
- Công ty nào phát triển, điều này ảnh hưởng đến tuổi thọ của công nghệ (React của Facebook, Angular của Google, Vue của cộng đồng người Trung Quốc...)
- Khi nào thì dùng công nghệ đó. (Làm 1 ứng dụng chuyển tiền, đang chuyển cúp điện thì làm bằng php hay asp, cái nào tốt cho người dùng hơn ?)
7. Đặc thù ngành:
- Tất cả mọi thứ đều chạy trên máy tính (cpu).
- Chỉ bị 1 giới hạn duy nhất: trí tưởng tượng.
8. Nền tảng ngành:
- Cấu trúc dữ liệu và giải thuật (thuật toán).
- Cơ sở dữ liệu, mạng máy tính (CCNA).
- Kỹ thuật lập trình, lập trình hướng đối tượng.
- Ngôn ngữ C, nâng cao: Hợp ngữ.
- Lý do: Kernel - nhân hệ điều hành được viết bằng C.
9. Tái bút:
- Cập nhật kiến thức mỗi ngày.
- Học để lĩnh hội kiến thức, không dùng mẹo để vượt qua các kỳ thi - đường dài mới biết sức ngựa.
- Mỗi nền tảng nên học 1 công nghệ sau đó học sâu (ví dụ: App mobile dùng Flutter, phần mềm dùng WPF....).
- Tối ưu tài nguyên: phần cứng (dung lượng) và độ phức tạp thuật toán là 1 điều khó, nhưng nếu làm được thì đó là minh chứng cho khả năng bạn có thể đi xa trong ngành.
- Không bốc đồng, không nên đưa ra quan điểm chủ quan, hãy học tốt kiến thức nền tảng của lĩnh vực mình theo đuổi sau đó dựa vào kiến thức nền tảng đó mà phát biểu hoặc suy luận.
- Trong công ty có 12 danh mục, công nghệ chỉ là 1 trong số đó, công nghệ không phải là vạn năng, đừng nghĩ mình cao quá...
- Thế giới này không phải chỉ có ngành IT, hãy dành thời gian tìm đọc tài liệu về kiến thức cơ bản của những ngành khác, sẽ có thu hoạch bất ngờ (giao tiếp tốt với người ngoài ngành, thụ phấn chéo giữa các ngành...).
10. Phần mềm lập trình IDE:
- IDE đầu tiên khi học C nên dùng dev C, học đến lập trình hướng đối tượng (họ nhà C: C, C++, C#) thì chuyển qua Microsoft Visual Studio.
- Đặt breakpoint trong IDE để mô phỏng từng bước code chạy, hoặc mô phỏng với web pythontutor (Google gõ: pythontutor).
- Lý do 1: Đi xe đạp trước khi đi máy bay.
- Lý do 2: Microsoft Visual Studio có thể dùng khi đi làm.
11. Laptop:
- Laptop đầu tiên nên dùng Dell hoặc HP (hệ điều hành Windows), ram 8GB (có thể nâng lên 16GB khi cần), cpu thế hệ mới nhất - hậu tố X/XE/Xeon W..., card rời, ổ cứng ssd.
- Khi học đến lập trình di động hoặc trí tuệ nhân tạo thì nâng lên ram 16GB (hoặc chuyển sang máy MacBook - laptop chuyên dụng cho lập trình viên).
- Lý do 1: Có 1 giải thưởng tên Turing - tương đương giải Nobel về khoa học máy tính, phần lớn người Mỹ đoạt giải này. Muốn giỏi nhất về công nghệ phải đến Mỹ hoặc liên quan đến Mỹ.
- Lý do 2: Dell và HP khá phổ biến, có thể mượn sạc dễ dàng nếu quên đem.

Quan điểm của tác giả về ngành A.I:

1. Nếu bạn có 1 đứa cháu, bạn sẽ dạy cho đứa cháu đó chạy xe đạp bằng cách nào?
- Cách dễ nhất là bạn chạy trước làm mẫu, sau đó nói đứa cháu đó chạy y chang bạn vừa chạy, đứa cháu đó không cần biết gì về căm, xích, vận tốc... cũng sẽ chạy được.
2. Có 2 cách làm 1 phần mềm xe tự lái:
- Trực tiếp: Lập trình 1 tỷ dòng if.
- Gián tiếp: Cho 1 người chạy trước trên 1 đoạn đường nhất định, sau đó ghi lại toàn bộ dữ liệu về vận tốc, góc cua, cách giữ khoảng cách giữa các xe... Sau đó khi phần mềm chạy, bạn kích hoạt lại toàn bộ dữ liệu ghi được ban đầu, do dữ liệu này là người thật chạy nên nó sẽ đúng.
3. Nền tảng ngành:
- Xác suất thống kê.
- Đại số tuyến tính.
4. Phân hệ:
- Reinforcement Learning (Học tăng cường) - Ứng dụng: Xe tự lái...
- Supervised Learning (Học có giám sát) - Ứng dụng: Phân loại email spam, dự đoán giá nhà...
- Unsupervised Learning (Học không có giám sát) - Ứng dụng: Hệ thống gợi ý mua hàng...
5. Môi trường lập trình:
- Anaconda.

Quan điểm của tác giả về game:

- Game là sản phẩm dùng để thử nghiệm công nghệ mới hoặc ý tưởng mới.
- Hãy chơi theo cách của bạn.
- Trận nào cũng là trận chung kết.

Quan điểm của tác giả về máy móc (robot):

- Máy móc là sự bổ sung cho con người.
- Tự động hóa sẽ giải phóng sức lao động và thúc đẩy nền kinh tế tri thức phát triển.

Quan điểm của tác giả về lập trình:

- Lập trình là lắp ráp Lego bằng dòng lệnh.

Quan điểm của tác giả về thiết kế sản phẩm:

- Nên tư duy từ các nguyên tắc đầu tiên (First Principles).

Quan điểm của tác giả về thiết kế kiểu dáng sản phẩm:

- Đây là sự giao thoa giữa văn hóa, thẩm mỹ và tiện lợi cho người dùng.
- Công việc của nhà thiết kế là khiến cho các mô hình, sản phẩm của ngày hôm nay trở nên lỗi thời vào ngày mai.

Quan điểm của tác giả về lý thuyết và thực hành:

- Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu.

Quan điểm của tác giả về quản trị rủi ro:

- Muốn hòa bình, hãy chuẩn bị cho chiến tranh.
- Nếu điều gì xấu có thể xảy ra thì nhất định nó sẽ xảy ra.
- Mỗi giải pháp đều phát sinh ra những vấn đề mới.

Định luật Murphy

Quan điểm của tác giả về "rác" mạng:

- Là sản phẩm có nội dung đi ngược lại luật bất thành văn của đại đa số con người về cách làm, thói quen, quan điểm sai đúng, trắng đen, lối sống trong cuộc sống hằng ngày.

Quan điểm của tác giả về ngành nên phát triển cho vùng không phù hợp để làm nông, lâm, ngư ở Việt Nam:

- Ngành công nghệ phần mềm.
Ưu điểm:
  • Có thể học và làm online 100%.
  • Chỉ cần laptop, điện và wifi.
Nhược điểm:
  • Cần trau dồi tiếng anh.

Quan điểm của tác giả về ngành mà Việt Nam cần nhất:

1. Công nghệ sau thu hoạch.
2. Quy hoạch vùng và đô thị.

Quan điểm của tác giả về sự thay đổi:

Có 2 cách để thay đổi:
  • Thay đổi bản thân để phù hợp với thế giới.
  • Thay đổi thế giới để phù hợp với bản thân (Elon Musk).

Quan điểm của tác giả về kinh doanh:

- Nên dùng binh pháp Tôn Tử.

Quan điểm của tác giả về điều mà Chính phủ nên làm khi muốn phát triển 1 lĩnh vực:

- Giao cho công ty tư nhân (nội địa) thực hiện.
- Chỉ nên hỗ trợ về pháp lý (và vốn khi cần).

Quan điểm của tác giả về mối liên hệ giữa nhân sự và sản phẩm được tạo ra từ nhân sự đó:

- Chất lượng của một hệ thống giáo dục không bao giờ có thể cao hơn chất lượng của giáo viên trong hệ thống giáo dục đó.

https://trithucvn.org/



- Sự phát triển của doanh nghiệp khó có thể vượt hơn sự phát triển tầm vóc của người dẫn dắt doanh nghiệp.

https://cafef.vn/

Quan điểm của tác giả về việc nên làm chuyện lớn 1 mình:

- Những kẻ trí tuệ tầm thường hay lên án những gì vượt quá tầm hiểu biết của họ.

La Rochefoucould



- Không có gì hèn cho bằng khi ta nghĩ bạo mà không dám làm.

Jean Ronstard



- Điều oái oăm là, nếu bạn không muốn liều mất cái gì thì bạn còn mất nhiều hơn.

Erica Jong

Quan điểm của tác giả về những điều mà sách giáo khoa nên có:

- Hướng dẫn người học cách tự học.
- Cập nhật kiến thức mới nhất.
- Nên nói về kiến thức thường thức.
- Diễn giải:
  • Nêu lên ví dụ về ứng dụng của nó.
  • Lịch sử hình thành.
  • Chứng minh.
  • Ý nghĩa, bản chất của vấn đề.
  • Điều kiện ứng dụng.
  • Máy tính sẽ tính toán.

Quan điểm của tác giả về điện ảnh:

Thực trạng phim Việt Nam:
  • Đa số phim Việt Nam có nội dung vụn vặt, mô típ lặp lại: Ngoại tình, mẹ chồng nàng dâu, thiện ngu ngốc, ác tận cùng, khôn lỏi, dùng thủ đoạn để lừa đảo, hại người, phi thực tế, phi logic...
  • Người xem phim không phải là người có trình độ học vấn cao. Sau khi xem xong phim, người xem sẽ ức chế và đem sự bực mình trút lên người thân.
Nên phát triển phim về nội dung:
  • Có thể ứng dụng vào cuộc sống.
  • Có tính giải trí cao (những pha đấu trí, hành động mãn nhãn...).

Quan điểm của tác giả về văn hóa:

- Con người tạo nên văn hóa.
- Văn hóa là tấm gương phản chiếu sự phát triển của xã hội.
- Trên đời này làm gì có đường, người ta đi mãi thành đường đó thôi.

Lỗ Tấn

Quan điểm của tác giả về nghệ thuật:

- Nghệ thuật là cảm nhận về cuộc sống thông qua cách mô tả của tâm hồn.
- Bạn dùng gương để ngắm gương mặt mình, bạn dùng nghệ thuật để ngắm tâm hồn mình.

George Bernard Shaw

Quan điểm của tác giả về tiêu cực:

- Xưa nay chưa có sự thật nào tốt đẹp.
- Đằng sau mọi gia sản kếch xù là 1 tội ác.

Bố Già của Mario Puzo

Quan điểm của tác giả về mô hình phát triển kinh tế phù hợp nhất với Việt Nam:

1. Mô hình công ty gia đình Chaebol (Hàn Quốc):
- Vào năm 1990, người dân Hàn Quốc lưu truyền rộng rãi một câu chuyện vui như sau: Nhân viên của "Tứ đại tài phiệt" - 4 chaebol hàng đầu Hàn Quốc - gặp một con gấu. Họ sẽ làm gì?
- Câu trả lời: Nhân viên Hyundai không chút do dự, chiến đấu với con gấu cho đến chết. Nhân viên Daewoo sẽ gọi cho Chủ tịch Kim Woo-jung và đợi lệnh của ông. Nhân viên Samsung sẽ tổ chức một cuộc họp – dù con gấu vẫn đứng đó - để thảo luận về cách đối phó. Nhân viên LG thì đợi phản ứng của Samsung, sau đó làm theo.
- Có thể nói, các chaebol chính là những "chàng hoàng tử" của cố Tổng thống Park Chung-hee vào thế kỷ 20, được "nuôi nấng" với sứ mệnh kéo Hàn Quốc ra khỏi cảnh nghèo khó thời hậu chiến. Và đúng là chỉ trong vòng 20 năm, chaebol thống trị lĩnh vực công nghiệp và đặc biệt phổ biến trong 3 ngành sản xuất, thương mại và công nghiệp nặng, mang lại "kỳ tích sông Hán" – cú nhảy vọt của kinh tế Hàn Quốc. Vào những năm 1990, Hàn Quốc là một trong những nước công nghiệp mới lớn nhất và tự hào về mức sống tương đương với các nước công nghiệp.
- Cố Tổng thống Park Chung-hee là người đặc biệt đề cao tầm quan trọng của công nghiệp hóa, tập trung chiến lược phát triển kinh tế xoay quanh các tập đoàn lớn, bảo hộ cạnh tranh và hỗ trợ tài chính cho họ, được coi là "chủ nghĩa tư bản có hướng dẫn".
- Sự đổi mới và sự sẵn sàng để phát triển các dòng sản phẩm mới là rất quan trọng. Trong những năm 1950 và đầu những năm 1960, chaebol tập trung vào tóc giả và dệt may; vào giữa những năm 1970 và 1980, các ngành công nghiệp nặng, quốc phòng và hóa học đã trở nên chiếm ưu thế. Vào đầu những năm 1990, sự tăng trưởng thực sự đã xảy ra trong ngành công nghiệp điện tử và công nghệ cao. Chính vì thế mà mô hình chaebol mà ta đang thấy ngày nay phần lớn đều là các tập đoàn đa ngành.
- Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa do chaebol dẫn đầu đã khiến rất nhiều quyền lực và lợi ích kinh tế tập trung trong tay một số ít các tập đoàn.
Lý do không phù hợp:
+ Chúng ta không có tầm nhìn dài hạn, không có tư duy hệ thống.
+ Chúng ta không thể ra kế hoạch chi tiết từng bước và thực hiện nó, kiểm tra kết quả, điều chỉnh và thực hiện đến khi hoàn thành mục tiêu.
+ Chúng ta chưa có người đủ tầm và năng lực để thực hiện.
+ Chúng ra ỷ lại vào rừng vàng biển bạc.

2. Mô hình công ty gia đình Mittelstand (Đức):
- Mittelstand là lớp doanh nghiệp gia đình quy mô nhỏ và vừa, là xương sống của nền kinh tế lớn nhất châu Âu tập trung vào một ngành duy nhất và có chuyên môn cao. Các mittelstand này tạo ra mọi thứ: keo gắn dùng cho điện thoại di động, thức ăn cho cá cảnh và những bộ tai nghe đắt nhất thế giới.
- Hãy tưởng tượng nhà bạn có một chiếc máy in gia truyền, kỷ vật do cụ cố để lại. Và bằng một cách thần kỳ nào đó, chiếc máy in này hoạt động "ngon lành" trong suốt trăm năm, nhưng không may đến một ngày đẹp trời lại "lăn đùng" ra vì hỏng một linh kiện mà bạn không biết là giờ có ai còn sản xuất hay không.
- Đừng nản chí, nếu linh kiện đó được sản xuất ở Heidelberger Druckmaschinen, bạn vẫn có thể đặt hàng mua lại chính xác như vậy, dù đúng là nó đã được sản xuất cách đây… 100 năm.
-Thứ nhất, các mittelstand tập trung cao độ vào mong muốn của khách hàng toàn cầu. Các công ty này đều thống nhất một quan điểm: "Chúng tôi không cố gắng trở thành công ty lớn nhất. Chúng tôi muốn trở thành người giỏi nhất trong lĩnh vực của mình cam kết lâu dài với lĩnh vực này". Joachim Kreuzburg, Giám đốc điều hành của Sartorius, một công ty nuôi cấy tế bào nói: "Chúng tôi không đào vàng. Chúng tôi bán xẻng cho người đào vàng".
- Thứ hai, các mittelstand tin rằng lợi nhuận ngắn hạn không phải là tất cả. Không phải ngẫu nhiên mà chỉ có một số rất ít mittelstand được niêm yết trên sàn chứng khoán. Họ thường duy trì tối đa cổ phần kiểm soát trong tay gia đình. Mục tiêu bền bỉ là giá trị lâu dài. Andreas và Daniel Sennheiser, đồng CEO của nhà sản xuất thiết bị âm thanh Sennheiser khẳng định: "Điều quan trọng đối với chúng tôi là giữ tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao và không lỗ. Một số người có thể nói rằng chúng tôi có ác cảm với rủi ro.
- Tất nhiên, định hướng của các mittelstand cũng đi kèm với rủi ro. Họ có thể sẽ chao đảo khi không có kế hoạch kế nhiệm rõ ràng cho thế hệ tiếp theo. Một nguy cơ khác là xảy ra chiến tranh gia tộc khi sự đố kị, ác cảm hoặc sự ganh đua giữa anh chị em xảy ra; Haribo và Fischerwerke là những ví dụ gần đây của các công ty đã tự hủy hoại mình theo cách này.
- Các chuyên gia tin rằng, những mittelstand này chính là hiện thân của nền kinh tế Đức. Giá trị cốt lõi của họ thể hiện tố chất người Đức – bảo thủ, cần mẫn và thận trọng - rõ nét hơn nhiều so với các thương hiệu công nghiệp lớn.
Lý do không phù hợp:
+ Giáo dục Việt Nam chỉ tập trung dạy để vượt qua cách kỳ thi, lấy bằng cấp chứ không phải kỹ năng nghề nghiệp.
+ Giáo dục Việt Nam không dạy để tạo ra sản phẩm, không học sâu đến gốc rễ và phát triển kiến thức ở 1 tầng cao hơn.
+ Bệnh thành tích xuất hiện ở mọi nơi. Chúng ta có nhiều giải Olympic nhưng không hề có 1 giải Nobel về khoa học tự nhiên nào.
+ Thầy, cô, cha, mẹ dạy học sinh, con cái học để kiếm nhiều tiền, xây nhà lầu, mua xe hơi chứ không phải học để trở thành người tốt, trở thành người có ích cho xã hội.
+ Không có khả năng kết hợp kiến thức cũng như kỹ năng của các ngành lại với nhau.

3. Mô hình hệ sinh thái công nghệ Silicon Valley (Mỹ):
- Thung lũng Silicon là một thuật ngữ dùng để chỉ một khu vực thuộc miền Bắc California tập trung ở Thung lũng Santa Clara, nơi có nhiều công ty hàng đầu và có công nghệ đột phá và sáng tạo, bao gồm Apple, Google, Facebook và Netflix.
- Điểm nổi bật của Thung lũng Silicon là số lượng các công ty công nghệ thành lập và có trụ sở tại đó. Thuật ngữ này đã trở nên nổi bật trong 1970 để chỉ sự phát triển của khu vực và sự phụ thuộc công nghệ vào bóng bán dẫn silicon, được sử dụng trong tất cả các bộ vi xử lí hiện đại.
- Nhiều công ty công nghệ nổi tiếng đã được thành lập tại Thung lũng Silicon, khiến khu vực này trở thành điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư mạo hiểm. Năm 2017, các công ty có giá trị nhất có trụ sở tại Thung lũng Silicon bao gồm Alphabet (Google), Apple, Chevron, Cisco Systems, Facebook, Intel, Netflix, Nvidia, Oracle, Visa và Wells Fargo. Tính đến năm 2018, 39 công ty trong danh sách Fortune 1000 có trụ sở tại Thung lũng Silicon.

Gốc rễ thành công của Thung lũng Silicon:

- Silicon Valley không hình thành bởi học thuật, ngành công nghiệp hay thậm chí nguồn vốn của chính phủ Mỹ. Thung lũng Silicon là tác phẩm của con người và các mối quan hệ mà ông Frederick Terman nuôi dưỡng cẩn thận giữa các khoa trong trường Stanford và các lãnh đạo ngành.
- Giáo sư AnnaLee Saxenian của Đại học California hiểu được tầm quan trọng của con người, văn hóa và sự kết nối. Cuốn sách “Regional Advantage: Culture and Competition in Silicon Valley” năm 1994 của bà so sánh sự phát triển của Silicon Valley với Đường 128 bao quanh Boston để giải thích vì sao không khu vực nào có thể lặp lại thành câu chuyện thành công của thung lũng.
- Bà Saxenia lưu ý cho đến thập niên 70, Boston vẫn vượt xa Silicon Valley về hoạt động khởi nghiệp và đầu tư mạo hiểm. Nó có lợi thế khổng lồ vì gần với các trung tâm công nghiệp bờ Đông. Đến thập niên 80, Thung lũng Silicon và Đường 128 tương đối giống nhau: đều bao gồm cả doanh nghiệp lớn và nhỏ, các đại học đẳng cấp thế giới, các nhà đầu tư mạo hiểm, nguồn vốn quân sự. Sau này, Silicon Valley vượt qua và bỏ xa Đường 128.
- Gốc rễ của vấn đề chính là văn hóa. Đó là tỷ lệ nhảy việc và thành lập công ty cao tại Silicon Valley, mạng lưới chuyên gia và trao đổi thông tin dễ dàng. Các doanh nghiệp tại thung lũng hiểu rằng vừa hợp tác vừa cạnh tranh dẫn đến thành công. Hệ sinh thái tại đây ủng hộ các thử nghiệm, chấp nhận rùi ro và chia sẻ bài học thành công, thất bại. Nói cách khác, Silicon Valley là một hệ sinh thái mở, một mạng xã hội đời thực rộng lớn, tồn tại rất lâu trước khi Facebook ra đời.
- Chưa kể, Thung lũng Silicon còn có khí hậu tuyệt vời, gần núi, đại dương, vô số đường mòn đi bộ trong công viên quốc gia. Những điều này góp phần nuôi dưỡng nền văn hóa lạc quan và cởi mở.
- Cần lưu ý rằng từ năm 1995 đến 2005, 52,4% startup khoa học – công nghệ tại Silicon Valley do một hoặc hơn một người không sinh tại Mỹ sáng lập. Tỉ lệ cao gấp đôi so với cả nước. Những người nhập cư đến Thung lũng Silicon cảm thấy dễ thích nghi và hòa nhập. Họ có thể học các quy tắc gắn kết, tạo ra mạng lưới riêng và tham gia một cách bình đẳng. Trụ sở của các công ty như Google giống như Liên Hợp Quốc vậy. Những quầy ăn không chỉ phục vụ xúc xích mà còn cả đồ ăn Trung Quốc, Mexico hay Ấn Độ.
- Chính sự đa dạng đó dẫn dắt tiến bộ. Sự hiểu biết về thị trường toàn cầu mà người nhập cư mang lại, kiến thức họ có về các lĩnh vực khác nhau, các liên kết mà họ cung cấp cho quê nhà… đã mang đến cho thung lũng một lợi thế cạnh tranh khổng lồ. Từ sản xuất chip máy tính, radio, Silicon Valley tạo ra công cụ tìm kiếm, mạng xã hội, thiết bị y tế và công nghệ năng lượng sạch.
- Tất nhiên, Silicon Valley không hoàn hảo. Chẳng hạn, phụ nữ và nhóm người thiểu số thường vắng mặt trong hàng ngũ lãnh đạo cao cấp. Các nhà đầu tư mạo hiểm có tâm lý bầy đàn, phần lớn tài trợ cho các startup tạo ra kết quả ngắn hạn, dẫn tới sự bùng nổ của các ứng dụng chia sẻ hình ảnh và mạng xã hội. Giá bất động sản cao tới mức hầu hết người Mỹ không có khả năng chuyển tới đây.
- Những nhược điểm đó làm chậm tiến trình phát triển của Silicon Valley song không khiến nó dừng lại. Thung lũng Silicon cũng có các đối thủ như New Delhi (Ấn Độ) hay Thượng Hải (Trung Quốc). Dù vậy, sẽ không có một Silicon Valley nào khác trên thế giới vì tất cả những lý do kể trên.
Lý do không phù hợp:
+ Không có môi trường để học sinh, sinh viên sáng tạo. Giáo trình phần lớn dịch từ nước khác chứ không tự nghiên cứu. Các trường học phần lớn hình chữ U, màu vàng, copy bản vẽ của nhau. Môi trường giáo dục và giáo trình gần giống nhau thì làm sao có tư duy khác biệt để so sánh, phản biện mà phát triển?
+ Tư duy ăn chắc mặt bền, kinh doanh "kiểu mì ăn liền", phong cách chụp giật của văn hóa người Việt.
+ Quyết định dựa vào tâm linh (tôn giáo, thầy bói...) nhiều hơn dựa vào khoa học ứng dụng và toán học.
+ Chỉ có thói quen đầu tư tiền vào các trò chơi may rủi (vé số) và đầu cơ bất động sản.
+ Không có văn hóa phản biện cũng như văn hóa từ chức.
+ Chỉ có tầm nhìn nhiệm kỳ, không có tầm nhìn chiến lược.
+ Văn hóa cam chịu và sợ sai, cũng như sợ những gì mình không biết.

Quan điểm của tác giả về cách kiếm tiền của tỷ phú:

  • Tỷ phú Mỹ thay đổi thế giới (bằng khoa học công nghệ).
  • Tỷ phú Việt thay đổi mục đích sử dụng đất.

Quan điểm của tác giả về ngành quản trị kinh doanh:

1. Quản trị: Quản lý công việc trị người khác.
2. Chức năng:
  • Chiến lược: Là đường đi. Đi đúng đường thì đi từ đây đến cuối đời cũng sẽ đến đích. Học để tìm ra con đường đúng để đi.
  • Lãnh đạo: Là nói cho người khác nghe. Phải hội đủ tố chất thì nói người khác mới nghe (quyền pháp lý-chức vụ, giỏi chuyên môn, đạo đức tốt...)
  • Tổ chức: Vào trận bóng đá thì đội hình có 11 vị trí, phải bố trí cho đủ 11 người. Chọn đúng người vào đúng vị trí. Đội hình cũng chuẩn bị cầu thủ dự bị. Tổ chức công việc trong doanh nghiệp, công ty cũng tương tự.
  • Kiểm tra: Đánh giá kết quả đạt được so với kế hoạch đề ra.
3. Ai nên học?
  • Là người sâu sắc trong nhận thức, học toán, triết và logic cực giỏi, có khả năng hùng biện và viết lách, tổ chức sắp xếp và hướng dẫn người khác.
  • Có đầu óc phóng khoáng, cởi mở, cầu tiến; có chí khí cao ngất, không ủy mị tình cảm, nhưng cũng không khô khan thực dụng: chịu chơi, chơi đẹp, hào sảng, nghĩ lớn: tháo vát, biết quán xuyến từ nhỏ, tính cách độc lập, có cá tính.
  • Sở hữu tính quyết đoán mạnh mẽ, nói phát đứng lên làm ngay, đi ngay, sẵn sàng buông bỏ cái cũ, ưa mạo hiểm, chịu rủi ro, không bị tâm lý chắc ăn nhược tiểu.
  • Để học QTKD thành công, bạn trẻ phải TRẢI NGHIỆM, chấp nhận làm mọi thứ từ lau dọn toilet đến bưng bê, tài xế, công nhân, PHẢI làm thêm để kiếm tiền đi học. Sinh viên quản trị mà xin tiền cha mẹ thì xong, hết phim. Những tháng ngày làm thêm rèn cho họ cái thông minh đường phố (street smart), để có thể DĨ BẤT BIẾN ỨNG VẠN BIẾN với đủ loại người. Và tập cho họ tính thích nghi. Thả ở đâu cũng sống được. Ăn cái gì, ngủ ở đâu cũng được.
  • Làm chân tay nhưng với cái đầu nên làm rất tốt. Trong quá trình làm, họ sẽ nghĩ ra, cải tiến cách làm sao cho nhanh hơn, đẹp hơn, hiệu quả hơn, ít tốn năng lượng hơn. Phải từ cấp thấp nhất đi lên. Họ hiểu được tâm tư nguyện vọng của từng vị trí, từng nhân viên, vì họ cũng đã từng. Dù có học ngành khác, họ cũng tự mày mò rút kết kinh nghiệm quản trị, và dần thành quản lý. Dù bỏ học vẫn làm sếp. HỌ SINH RA ĐỂ QUẢN CÔNG VIỆC VÀ TRỊ NGƯỜI KHÁC.
4. Ai không nên học?
  • Con nhà “chỉ ngồi vào bàn học, giải đề thi, luyện đề, bạn thân là máy tính, ipad”, vừa hết cấp 3 xong, cắp cặp đi học QTKD: không nên. Hàng tháng xin tiền mẹ thì làm sao hiểu được “quản trị tài chính”. Bạn bè toàn tự sướng facebook thì hiểu gì về “quản trị nguồn nhân lực”. Chưa lao động chân tay bao giờ thì sơ đồ Gantt trong môn Quản trị sản xuất là cái gì đó vớ vẩn. Tháng nhận từ mẹ 5 triệu nhưng mới nửa tháng phải bịa ra lý do để xin thêm tiền, thì ngồi đó mà phân tích điểm hoà vốn. 18 tuổi trở lên rồi mà còn phụ thuộc cha mẹ, có nghĩa là “QUẢN” bản thân chưa xong, thì không thể “TRỊ” người khác. Học xong chữ nghĩa trả hết, không nhớ vì không hiểu.
  • Học QTKD không khó, lúc nào cũng được, 60 tuổi học vẫn vô. Nhưng 25 tuổi rồi thì học kỹ sư, bác sĩ, kiến trúc, xây dựng, mỹ thuật, cơ khí, nông nghiệp…rất khó. Nên nếu mình vẫn đam mê QTKD mà chưa có những tố chất trên, nên học ngành khác. Sau khi tích lũy đủ các điều kiện trên, học QTKD vẫn không muộn.
  • Học sinh trung học nước ngoài có học QTKD? Có. Thứ nhất là dạng cực kỳ xuất sắc, có tố chất lãnh đạo từ bé, tự vay tiền, tự làm thêm mà đi học. Hoặc cha mẹ nó có cơ ngơi công ty nhà máy, nó vừa học vừa tham gia quản lý.
  • Các chương trình MBA, thạc sĩ QTKD của các ĐH uy tín đều bắt buộc ứng viên phải có vài năm kinh nghiệm đi làm. Bằng ĐH ngành gì cũng được, kỹ sư càng được hoan nghênh, vì sẽ trở thành nhà kỹ trị.
  • Tóm lại, ngành QTKD dành cho bạn trẻ có tố chất và chịu làm, dám làm. Nếu đam mê kinh tế nhưng chưa có tố chất, có thể chọn các nghề cụ thể, ví dụ kế toán, xuất nhập khẩu, chứng từ văn phòng, thư ký, tiếp tân, marketing, bán hàng, toán kinh tế, thống kê, bảo hiểm, vận tải, logistic, du lịch, kiểm toán,… Khối ngành kinh tế dành riêng cho những bạn yêu thích làm ăn, khỏe mạnh, năng động, thích giao tiếp, hướng ngoại, kỹ năng đàm phán xuất sắc, trí nhớ và tính toán chính xác. Làm kinh tế, sai 1 con số, 1 dấu phẩy, phải đền tiền hoặc đi tù. Riêng ngành quản trị KD, đào tạo lãnh đạo doanh nghiệp, “lãnh” nghĩa là dẫn, “đạo” là đường, lãnh đạo là người dẫn đường, CEO phải đưa doanh nghiệp làm ăn có lãi, phải đảm bảo việc làm cho người lao động. Mình như con hươu đầu đàn, phải tìm bãi cỏ tốt cho cả đàn mình no bụng. Gồng gánh trên vai đầy trách nhiệm, cực khổ nhưng vinh quang.

Quan điểm của tác giả về việc không ham đọc sách của người dân:

  • Giáo dục không dạy cho học sinh từ bé thói quen đọc sách, thói quen chủ động ghi chép, thói quen tóm tắt các ý tưởng trong sách.
  • Giáo dục không dạy cho học sinh tư duy độc lập, tư duy phê phán, thói quen đặt ra các câu hỏi.
  • Giáo dục chỉ thiên về áp đặt chân lý, luân lý, không khuyến khích học sinh nghi vấn, tìm hiểu, phiêu lưu, sáng tạo.
  • Đọc sách là để được tự do thả mình theo các ý tưởng, để tìm hiểu, để tiếp nhận tri thức, nhưng cũng còn là để tranh luận, phản biện với sách.
  • Giao thông bất tiện, ít ngày nghỉ dài. Ở các nước phát triển, nhiều người đọc sách khi đi trên xe điện hoặc họ đọc sách vào những kỳ nghỉ.
  • Điều kiện sống của người Việt Nam hiện nay cũng rất bất tiện cho việc đọc sách: ồn ào, chật chội. Ít có phòng đọc sách trong nhà.
  • Thói quen ăn uống, sinh hoạt của người Việt Nam: rất dềnh dàng, rườm rà, mất nhiều thời gian.
  • Giá sách đắt so với lương cơ bản.

Quan điểm của tác giả về sự khác biệt trong tư duy khi sản xuất sản phẩm của Ta và Tây:

- Kỹ sư Tây dành nhiều thời gian cho nghiên cứu, thiết kế, đo đạc. Sau khi tạo ra sản phẩm mẫu, họ tạo luôn cả cái khuôn. Sau cùng, họ sản xuất hàng loạt với quy mô công nghiệp.
- Kỹ sư Ta nhạy bén, làm rất nhanh, nhưng chỉ có tư duy sản xuất đơn lẻ, không có tư duy sản xuất công nghiệp.

Quan điểm của tác giả về điệp khúc được mùa mất giá:

- Tỉnh Kiên Giang có một đặc sản gọi là khóm Tắc Cậu. Người dân trồng khóm theo mô hình ba tầng sinh thái: khóm-cau-dừa. Dừa cao tầm 20-25m, cau cao tầm 15-20m, bên dưới là khóm. Mô hình này giải quyết 3 vấn đề: Đủ không gian ánh sáng cho 3 loại cây quang hợp, 3 loại cây có thể tạo ra hoa lợi quanh năm, rất khó để cả 3 loại trái cây rớt giá ở cùng 1 thời điểm. Ngoài ra sản phẩm chủ lực – khóm Tắc Cậu có thể chế biến ra các sản phẩm khác như: Mứt khóm, kẹo khóm, nước khóm, khóm sấy…

Tại sao Việt Nam vẫn cứ nghèo?

1. Lười biếng, dễ hài lòng:
  • Nghỉ hưu sớm:
    - Trong xu thế tuổi thọ con người ngày càng tăng, hầu hết các nước đều nâng tuổi về hưu (Mỹ 67 tuổi, Nhật 68 tuổi, Pháp 62 tuổi…) thì Việt Nam vẫn giữ nữ 55, nam 60 từ cách đây 62 năm khi mà tuổi thọ thấp hơn hiện nay 10 tuổi.
  • Lười lao động:
    - Ở Thành phố số thanh niên thất nghiệp, không việc làm, ngày ngày la cà quán sá, cà phê, chơi bài cả ngày. Họ than thở, oán trách đổ lỗi cho chính quyền mà ít người có ý chí lập nghiệp Start-up. Rất ít người nghĩ mình tự lập nghiệp, tự tạo ra công ăn việc làm cho chính mình và cho xã hội. Những người có việc làm ở công sở thì hoặc sáng đến muộn giờ, hoặc đến đúng giờ chỉ để điểm danh rồi đi ăn sáng, giữa giờ làm việc thì lại trốn ra quán cafe giải khát ngồi tán gẫu. Không ở đâu lại có nhiều quán cafe, giải khát, quán nước vỉa hè nhiều như Việt Nam mà quán nào cũng đông khách cả trong giờ làm việc.
  • Lười suy nghĩ:
    - Trừ các học sinh trường chuyên, đa số những trường khác, học sinh rất chi là lười, đặc biệt là rất lười đọc sách, rất lười tự học. Cứ nhìn số lượng các hiệu sách, số lượng độc giả đến hiệu sách thì sẽ hiểu người Việt lười đọc sách thế nào.
  • Lười vận động:
    - Chỉ cần khoảng cách 100m họ cũng đi xe máy thay vì đi bộ (chúng ta đều biết ở nước ngoài đi bộ 500m – 1Km là chuyện bình thường). Không chịu vận động làm cho người thiếu sức dẻo dai, ảnh hưởng đến năng xuất lao động. Đi xe máy khi không cần thiết sẽ làm tăng ùn tắc giao thông, tăng ô nhiễm môi trường, tăng tai nạn giao thông, lãng phí tiền xăng.
2. Tư duy nhỏ, quanh quẩn xó nhà:
  • Thể hiện rất rõ trong giao thông:
    - Thời trước khi Pháp xâm lược Việt Nam (1858) giao thông của nước Việt chỉ là những con đường nhỏ cho người đi bộ, ngựa, trâu, bò và xe 2 bánh người kéo (xe kéo chở người, xe chở hàng hoá). Không có con đường nào rộng đủ cho xe 4 bánh ngựa kéo hay ô tô có thể đi lại được (Các đường quốc lộ, tỉnh lộ, liên huyện, đường xe điện, đường tàu hoả đều do người Pháp xây dựng sau khi vào Việt Nam).
    - Giao thông toàn đường nhỏ cho người và xe 2 bánh rất lợi hại cho phòng thủ đất nước, chống xâm lược. Chỉ cần rút lui, vườn không nhà trống rồi tuyệt đường tiếp vận là quân xâm lược tự thua và rút về nước. Đọc lịch sử Việt Nam thì thấy hầu hết các triều đại, khi ở thế yếu các tướng lĩnh, vua, chúa Việt Nam đều dùng chiến thuật vườn không nhà chống này để chống xâm lược phương Bắc và đều giành chiến thắng.
    - Thế nhưng để phát triển kinh tế, giao thương thì đường giao thông nhỏ bé là lực cản, là hạn chế lớn nhất. Con người và hàng hoá không được lưu thông, kinh tế không thể phát triển. Với đường giao thông nhỏ như vậy thì Việt nam không có công trình nào to cũng dễ hiểu.
  • Thể hiện qua biểu tượng của Hà Nội là chùa một cột, một ngôi chùa có lẽ bé nhất thế giới:
    - Trong công viên “Thế giới thu nhỏ” ở Thâm Quyến, mỗi quốc gia người ta xây dựng một công trình biểu tượng (Pháp thì có tháp Epphen, Mỹ thì có tượng nữ thần tự do, Italia thì có đấu trường La Mã…). Mỗi công trình người ta thu nhỏ 1/25 so với kích thước thật, riêng chùa một cột vì quá bé nên người ta thu nhỏ tỷ lệ 1/8. Chúng tôi đi thăm thì tất cả các biểu tượng của các nước khác đều có thể đi vào bên trong, đi lại được, chỉ có chùa một cột là đứng bên cạnh và nóc chùa chỉ đến ngang vai.
  • Thể hiện trong ruộng đất:
    - Được chia nhỏ theo từng thửa, thường là 1 sào 360 m2, với thửa ruộng bé như vậy thì chỉ có thể làm thủ công với hiệu xuất thấp, không thể tổ chức sản xuất lớn, không thể cơ giới hoá. Khoán 100 năm 1981 và khoán 10 năm 1988 đã thiết lập nên kinh tế hộ gia đình, người nông dân làm chủ mảnh đất của mình, đã tạo ra cú huých, đột phát đưa nước ta từ chỗ thiếu lương thực thành nước xuất khẩu gạo thứ 2 thế giới. Nhưng như cái lò xo bị nén được giải phóng đã bung hết cỡ, những năm gần đây nông nghiệp không còn lực phát triển nữa, bởi bản chất kinh tế hộ gia đình vẫn là lối tư duy nhỏ bé. Phải làm lớn, tích tụ ruộng đất lớn để sản xuất với qui mô lớn, đưa máy móc, tự động hoá vào, đặc biệt phải đẩy mạnh nông nghiệp công nghệ cao theo công nghệ của Nhật Bản, Israel. Chỉ có như vậy nông nghiệp và nông thôn Việt Nam mới có bước phát triển mạnh mẽ, mới có năng xuất và hiệu suất cao.
  • Thể hiện trong việc tổ chức buôn bán thông qua chợ cóc, buôn bán vỉa hè:
    - Vì chợ cóc buôn bán vỉa hè nên xe máy là phương tiện giao thông thích hợp nhất vì có thể dừng bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào. Khi xe máy ít thì đúng là rất thuận tiện, nhưng bây giờ khi Hà Nội có 5 triệu xe và Hồ Chí Minh có 8 triệu xe, nạn kẹt xe thường xuyên xảy ra thì hiệu quả của cả xã hội rất thấp, mỗi ngày người dân tốn thêm trung bình 45 phút – 75 phút cho việc đi đến công sở và trở về nhà. Bây giờ chúng ta mới bắt đầu nghĩ đến đường sắt đô thị, metro thì ít nhất phải 10-15 năm nữa Hà Nội, Hồ Chí Minh mới có hệ thống đường sắt đô thị, metro.
  • Thể hiện trong các doanh nghiệp:
    - Ai cũng biết doanh nghiệp nhỏ thì năng động hơn, nhưng doanh nghiệp lớn mới có tiềm lực, có thể đảm nhận những công trình lớn, mới có thể cạnh tranh quốc tế. Rất nhiều doanh nghiệp Việt nam sau một vài năm thành lập, phát triển thành công một tý, lớn một tý là tách làm hai, làm ba, kể cả những công ty do 2-3 người bạn thân cùng góp vốn.
    - Nếu chúng ta không có những công ty lớn thì không thể cạnh tranh quốc tế, không thể làm được những việc lớn. Nếu chúng ta không có tư duy lớn thì chúng ta chỉ làm những việc bé. Đất nước mở cửa, hội nhập kinh tế thế giới đã 22 năm mà hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam chỉ làm thầu phụ ngay trên chính sân nhà của mình, nếu có làm tổng thầu thì cũng chỉ là những dự án vốn của nhà nước, của chính phủ, cứ dự án đấu thầu quốc tế sòng phẳng là hầu hết doanh nghiệp Việt Nam lại trở lại thân phận làm thuê, làm thầu phụ ngay.
    - Hội nhập kinh tế thế giới là tất yếu, nhưng sau 22 năm hội nhập, đáng buồn là chúng ta đã mất đi nhiều thương hiệu Việt nổi tiếng một thời vào tay các hãng nước ngoài chỉ vì các doanh nhân Việt không dám nghĩ lớn, không dám đương đầu cạnh tranh sòng phẳng với các hãng nước ngoài, dù là trên sân nhà của mình. Các thương hiệu Việt bị các hãng nước ngoài nuốt chửng, mất luôn tên tuổi có thể kể đến kem đánh răng Dạ Lan bị Colgate Palmolive nuốt, kem đánh răng PS về tay Unilever, bia Huế về tay Carlsberg Đan Mạch, Tribeco về tay Uni-President, Phở 24 và Highland Coffe về tay Jollibee Ford…
  • Một điểm yếu nữa của người Việt là không có máu chinh phục, không có máu kinh doanh quốc tế, không có khát vọng toàn cầu hoá, trong khi Tây vào tận nước mình, kinh doanh, thôn tính, kiếm tiền của mình, thì các doanh nghiệp Việt chỉ quanh quẩn trong đất nước mình, thậm chí thành phố mình, tỉnh mình.
3. Áp đặt suy nghĩ của mình cho người khác:
  • Không chấp nhận người không cùng chính kiến với mình:
  • - Ngay từ thói quen ăn uống, người Việt đã áp đặt nhau: Người Việt ăn món gì thấy ngon thì luôn nghĩ người khác phải ăn thế mới ngon, mình ăn hành, ăn tỏi, ăn mắm tôm, ăn thịt chó thì người khác cũng phải ăn, “không ăn phí nửa đời người”, “ăn tốt cho sức khỏe”, “ăn ngon lắm”… họ đâu có biết người không ăn được thì hoặc cơ thể họ không tiếp nhận hoặc với họ ăn như một cực hình.
    - Trong nhà hàng hay mời khách đến nhà ăn, người Việt không có thói quen hỏi người khác kiêng cái gì hoặc người Việt quan niệm “Nam vô tửu như cờ vô phong”, trên bàn tiệc bắt tất cả đều phải uống rượu, đều phải 100%, nếu không 100% là không thật lòng, không cần biết người ta có uống được không, có đang điều trị bệnh gì không.
  • Hệ quả:
    - Thiếu kiềm chế, hung hăng nên rất khó tìm lời giải tối ưu khi đất nước đứng trước nguy cơ bị xâm lược, nguy cơ chiến tranh, dẫn đến việc chúng ta không giữ được hoà bình, xẩy ra chiến tranh nhiều. Đã bao giờ bạn tự hỏi tại sao trong lịch sử 4000 năm Việt Nam lại xẩy ra chiến tranh nhiều đến thế, có bạn nói tại ông bạn hàng xóm xấu tính, thế thì Sơn Tinh đánh nhau với Thủy Tinh, Đinh Bộ Lĩnh loạn 12 xứ quân, Trịnh Nguyễn phân tranh 200 năm là tại ai?. Đã bao giờ bạn tự hỏi tại sao trong lịch sử Thái Lan và các nước xung quanh ít chiến tranh hơn Việt Nam?
    - Thiếu tính kế thừa, ai có quyền cũng muốn không giống người tiềm nhiệm, muốn ghi dấu ấn của mình thành ra các công trình cổ bị đập đi, làm lại. Trong khoa học, công nghệ chúng ta không có thói quen làm tiếp, tiếp quản thành quả của người khác mà thích làm lại từ đầu. Tất cả dẫn đến lãng phí của cải chung của cả xã hội và giá thành sản phẩm cao và chậm nhịp độ phát triển.
    - Hoặc là tổ chức sẽ thiếu tính sáng tạo vì không có người phản biện hoặc là tổ chức sẽ thiếu sự đoàn kết và không phát huy hết các tài năng cá nhân vì những người khác quan điểm hoặc sẽ phải dời bỏ hoặc ở lại thì thụ động, không dám thể hiện hết mình.
4. Nền tảng triết học yếu lại không chuẩn:
  • Triết học của Việt Nam:
    - Gốc là Nho Giáo sau này chuyển sang Khổng Giáo, Khổng Giáo độc tôn ở Việt nam cho tới thế kỷ 20. Cuối thế kỷ 16 khi các nhà truyền giáo Châu Âu vào giảng đạo, Thiên Chúa Giáo bắt đầu hình thành và phát triển, triết học Khổng Giáo dần bị lai tạp bởi Thiên Chúa Giáo. Với sự thay đổi và phát triển như vậy triết học của Việt Nam là lai tạp, pha trộn và ảnh hưởng của nước ngoài (Trung Quốc và phương Tây) nên nền tảng không vững chắc, cộng thêm Việt Nam không có triết gia nên các hệ thống lý luận và giá trị vừa yếu vừa không chuẩn.
  • Điểm sai lệch:
    - Đánh giá thấp vai trò của doanh nhân, doanh nghiệp và thương mại. Không những đánh giá thấp mà còn bị coi thường: Dạy học và chữa bệnh thì được gọi là “thầy”: “thầy giáo”, “thầy thuốc” (điều này không sai), còn buôn bán, thương mại thì gọi là “con” là “bọn” (“phường con buôn”, “bọn con buôn”).
    - Doanh nghiệp (bao gồm cả nhà máy, xí nghiệp sản xuất, ngân hàng): Là trung tâm của xã hội, tạo công ăn việc làm cho 70% lao động trong xã hội, đóng thuế nuôi bộ máy chính phủ, duy trì an ninh quốc phòng, đầu tư cho giao thông, hạ tầng xã hội, đầu tư cho giáo dục, đầu tư cho y tế, chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người nghèo và các chính sách xã hội…
  • Hệ quả:
    - Một thành phần chính, lực lượng chính, hoạt động trung tâm của việc tạo ra của cải cho xã hội, của phát triển kinh tế, làm giàu cho cá nhân, tập thể và đất nước lại bị đánh giá thấp nhất, bị coi thường, bị miệt thị thì mãi nghèo cũng là chuyện tất yếu, không thể khác.
    - Một đất nước, một nền văn hoá, loại bỏ thương mại, thiếu vắng thương mại sẽ dần biến đất nước, biến xã hội thành một đất nước, một xã hội không văn minh, thiếu lịch sự, đôi khi lỗ mãng.